Trong tiến trình lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được khắc ghi như một cột mốc vàng chói lọi nhất. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và công bố trước toàn thể quốc dân, văn kiện mang ý nghĩa trọng đại này đã chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên tại toàn bộ khu vực Đông Nam Á.
Bản tuyên ngôn không chỉ là lời khẳng định đanh thép về chủ quyền quốc gia và quyền tự do bất khả xâm phạm của người dân Việt, mà còn vang dội như một tiếng chuông chấm dứt ách đô hộ của thực dân, phát xít cùng chế độ phong kiến lâu đời, chính thức mở toang cánh cửa bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của hòa bình và độc lập tự chủ.
Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhân dân Việt Nam phải oằn mình chịu đựng ách cai trị khắc nghiệt của thực dân Pháp. Khi thế chiến thứ hai lan rộng, phát xít Nhật tiến vào Đông Dương tạo nên gọng kìm "một cổ hai tròng" bóp nghẹt quyền sống của nhân dân ta:
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tiến hành đảo chính lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương. Đến tháng 8 năm 1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Một khoảng trống quyền lực xuất hiện, tạo thời cơ lịch sử "ngàn năm có một".
Dưới sự lãnh đạo nhạy bén của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc đồng lòng đứng lên tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 oanh liệt, giành lại chính quyền về tay nhân dân trên phạm vi cả nước.
Thắng lợi rực rỡ của cuộc cách mạng là tiền đề trực tiếp để Chính phủ lâm thời nước Việt Nam mới được thành lập và quyết định tổ chức một buổi lễ trọng đại tuyên bố nền độc lập non trẻ trước thế giới.
Dưới ánh nắng thu vàng rực rỡ tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước sự chứng kiến đầy xúc động của hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử.
Bằng tầm nhìn sâu rộng, Người đã mở đầu bản tuyên ngôn bằng việc trích dẫn khôn khéo tinh hoa nhân loại trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Pháp:
Từ định nghĩa mang tính chân lý về quyền con người của phương Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát hóa một cách sáng tạo và xuất sắc nâng tầm thành quyền bình đẳng của mọi dân tộc trên thế giới: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do." Đây chính là cống hiến lý luận to lớn cho phong trào giải phóng dân tộc toàn cầu.
Độc lập, tự do là quyền tự nhiên và tất yếu không một thế lực nào có thể tước đoạt. Bản tuyên ngôn nêu cao tinh thần quả cảm, lòng yêu nước nồng nàn và ý chí tự tôn dân tộc đã được tôi luyện vững chắc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.
Bản cáo trạng đanh thép tố cáo thực dân Pháp núp dưới danh nghĩa "bảo hộ" nhưng thực tế đã tước đoạt mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân, bóc lột kiệt quệ tài nguyên, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc và gây ra thảm cảnh đói nghèo khủng khiếp. Tuyên ngôn khẳng định họ đã không còn bất cứ tư cách pháp lý hay đạo lý nào để quay trở lại cai trị.
Tuyên ngôn chỉ rõ nền độc lập hiện tại không phải do thế lực ngoại bang ban phát mà chính do mồ hôi, xương máu và sự đồng lòng của toàn thể nhân dân tự lực giành lại: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một thế kỷ nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập."
Sức sống bền bỉ của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 nằm ở hệ thống giá trị nhân văn và chính trị sâu sắc:
Đề cao quyền sống, tự do cá nhân như một chân lý cơ bản.
Sáng tạo phát triển từ quyền con người thành quyền tự quyết quốc gia.
Khơi dậy sức mạnh vô địch của sự đồng lòng toàn dân.
Xây dựng thể chế Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á.
Thể hiện ý chí bảo vệ nền độc lập, hòa hiếu với quốc tế.
Về phương diện nghệ thuật văn học, Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là áng văn chính luận mẫu mực bậc nhất của thời đại mới. Văn bản có bố cục mạch lạc vô song, hệ thống luận điểm sắc bén đi liền với các dẫn chứng lịch sử xác đáng, ngôn từ súc tích đanh thép, vừa mang tính thuyết phục về lý trí vừa chạm đến những xúc cảm tự hào sâu thẳm nhất của mỗi trái tim người Việt.
Hơn tám thập kỷ trôi qua, ngọn đuốc sáng rọi từ Quảng trường Ba Đình năm 1945 vẫn vẹn nguyên giá trị dẫn đường. Tinh thần độc lập, tự chủ, khát vọng hòa bình cùng ý thức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia tiếp tục là bài học quý báu, giáo dục lòng tự tôn dân tộc và là bệ phóng vững chắc đưa nước Việt Nam tiến bước tự tin trong thời đại toàn cầu hóa.
Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo là một văn kiện chính trị - pháp lý mang tầm vóc thời đại. Tác phẩm không chỉ khép lại một chương tối tăm trong lịch sử để khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn là biểu tượng bất tử của khát vọng tự do, ý chí tự lực tự cường dân tộc. Trải qua dòng chảy thăng trầm của lịch sử, những tư tưởng cốt lõi trong bản Tuyên ngôn vẫn mãi là ngọn hải đăng soi sáng cho sự nghiệp xây dựng, phát triển và giữ vững chủ quyền dân tộc trọn vẹn của Việt Nam.